Thử nghiệm kiểm tra độ vón kết của vải Pilling Test

Hiện tường xù lông, vón cục trên vải sau một lần giặt hoặc vài lần sử dụng sẽ gặp phải rất nhiều. Nó ảnh hường nhiều đến thẩm mỹ và thời trang. Hãy tìm hiểu thêm hiện tượng này do đâu, các phương pháp kiểm tra độ vón kết của vải khi sản xuất.

Thử nghiệm kiểm tra độ vón kết của vải Pilling Test

Trong đời sống thường nhật, ta thường sẽ thấy xảy ra hiện tượng xù lông và vón kết trên bề mặt quần áo lại sau một thời gian sử dụng. Điều này không chỉ làm giảm tính thẩm mỹ mà còn có thể khiến quần áo trở nên hư hỏng nghiêm trọng hơn nếu chúng ta không biết cách xử lý kịp thời. Để hiểu rõ hơn về hiện tượng này, hãy cùng tìm hiểu qua bài viết về quá trình thử nghiệm kiểm tra độ vón kết của vải theo từng tiêu chuẩn sản xuất.

Hinh 1
Hiện tượng kết vón (pilling) trên bề mặt vải

Hiện tượng pilling trên vải nghĩa là gì?

Pilling, hay còn gọi là độ vón kết, là hiện tượng hình thành các hạt nhỏ trên bề mặt vải. Sự hình thành này xảy ra khi các sợi/xơ vải nhô lên khỏi bề mặt và vướng vào nhau sau một thời gian sử dụng, tạo thành những ‘hạt vón’. Các hạt này thường xuất hiện sau một thời gian do quần áo bị ma sát với nhau hoặc bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài như cách bảo quản và giặt sấy.

Nhiều người nhầm tưởng rằng pilling là dấu hiệu của việc mua phải hàng lỗi hoặc kém chất lượng. Tuy nhiên, thực tế thì pilling không phải do lỗi vải mà liên quan đến thành phần sợi, cấu trúc của vải, cũng như cách bảo quản và sử dụng của người tiêu dùng.

  • Thành phần: Vải có thành phần xơ tự nhiên như cotton hay lanh thường dễ loại bỏ hạt vón hơn so với xơ tổng hợp hoặc nhân tạo, vì xơ ngắn không thể tạo liên kết chặt chẽ.
  • Cấu trúc vải: Vải dệt kim thường có cấu trúc lỏng lẻo để tạo sự co giãn và thoải mái cho người mặc. Tuy nhiên, cấu trúc này làm cho các sợi bề mặt dễ ma sát với nhau, dẫn đến việc hình thành hạt vón.
  • Hoàn thiện cơ học: Đốt lông là phương pháp phổ biến để loại bỏ các sợi nhô lên trên bề mặt vải. Nếu điều chỉnh họng đốt không chính xác, có thể dẫn đến việc đốt không triệt để, từ đó hình thành hạt vón hoặc xù lông sau khi sử dụng.
  • Giặt: Việc không phân loại quần áo trước khi giặt hoặc giặt quá tải có thể khiến chúng cọ sát vào nhau, làm tăng nguy cơ hình thành hạt vón.

Một số sản phẩm vải thun cotton chiều tại synex đạt xù lông vón cục

ANH DAI DIEN BAI
Bề mặt quần áo bị vón kết

Xem thêm: Độ co rút vải thun cotton

Cách loại bỏ hạt vón trên quần áo tại nhà

Đối với vải từ sợi tự nhiên có thể loại bảo dễ dàng bằng dao cạo, băng dính, dao lam, các vải có loại sợi to hơn như áo len nên sử dụng lược răng nhỏ,…

Thử nghiệm kiểm tra độ vón kết của vải

Độ xù lông của vải là một đặc tính khá phức tạp vì nó bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố và rất dễ xảy ra trên tất cả các loại quần áo. Khả năng chống kết vón của một loại vải cụ thể khi mặc thực tế thay đổi theo điều kiện sử dụng của người mặc. Hiểu được tầm quan trọng đó, nhà sản xuất phải thực hiện thử nghiệm chống vón kết (pilling test) để đảm bảo sản phẩm bán ra đạt yêu cầu hoặc có những khuyến cáo cho người sử dụng để giữ quần áo kết vón trong khả năng chấp nhận được. 

Hạt vón sẽ được hình thành ngẫu nhiên nhờ cọ xát vào vật liệu có tính mài mòn nhẹ trong máy thử nghiệm. Phụ thuộc vào yêu cầu của nhà sản xuất và thị trường tiêu thụ mà có các phương pháp thử nghiệm cũng như yêu cầu khác nhau.

Thiết bị kiểm tra độ vón kết

1. Máy ICI

Máy bao gồm hộp vỏ được lót bằng tấm lót bần và các ống cao su đặc biệt được đặt trong hộp. Hộp như một khối lập phương có cạnh 23 cm.

Các tiêu chuẩn thử nghiệm: EN ISO 12945.1, IWS TM152, BS 5811, JIS L1076., ASTM D3939, JIS-L1018

Thiết bị kiểm tra độ vón kết của vải
Máy ICI
HINH 2.2 copy
Máy ICI của hãng Yasuda – Japan

2. Máy kiểm tra độ chà xát vải sợi Martindale: 

Đây là thiết bị dùng để đánh giá độ bền ma sát và xù lông, vón kết của vải theo phương pháp Martindale. 

Các tiêu chuẩn thử nghiệm: ISO 12945-2-2020  ISO12947-1-1998   ISO12947-2-2016, ISO12947-3-1998    ISO12947-4-1998, GB/T 21196.1-2007  GB/T 21196.2-2007, GB/T 21196.3-2007  GB/T 21196.4-2007, GB/T 4802.2-2008    BS EN 530-2010, ASTM D4970/4970M-22   ASTM D4966-22

HINH 3
Máy Martindale

3. Máy Random Tumble:

Thiết bị này có cấu tạo gồm 4 buồng thử nghiệm hình trụ, bên trong có cánh quạt làm bằng thép quay với tốc độ, hệ thống khí nén và tấm lót bần.

Tiêu chuẩn áp dụng: ASTM D3512, DIN 53867, ISO 12945-3, JIS L1076-D, GB/T 4802.4,…

HINH 4 copy
Máy Random Tumble

Các tiêu chuẩn kiểm tra Pilling

Thông thường sẽ sử dụng các tiêu chuẩn dưới đây để kiểm tra độ chống vón kết của vải:

1. Tiêu chuẩn JIS L 1076:2012

Phương pháp A: Sử dụng máy ICI type tester. 

Theo nguyên tắc, mỗi tấm lót chỉ được sử dụng trong lồng quay 1500 giờ và phải thay thế khi nó bị hư hỏng hoặc mài mòn. 

Độ dày tấm lót 3 ± 0,2 mm

HINH 5
Tấm lót trong máy ICI

Ống cao su được sử dụng trong thử nghiệm thường là một ống rỗng hình trụ với cái tiêu chí sau (nếu bị mòn hoặc hư hỏng thì phải thay thế): 

  • Độ dày: 3mm
  • Chiều dài: 150 mm
  • Đường kính ngoài: 31 mm

Khi hộp và ống cao su được sử dụng lần đầu tiên, ta cần chạy mà không có mẫu test trong 10 giờ tốc độ 60 vòng/phút.

HINH 6
Hình ảnh mô phỏng và thực tế máy ICI
HINH 8
Kích thước và hình dạng các ống cao su đặc biệt

Quy trình thử nghiệm:

Lấy 2 mẫu thử có kích thước 100mm x 120 mm Cắt mỗi mẫu theo hướng dọc và hướng ngang của vải. Cuộn mẫu xung quanh các ống cao su đặc biệt như hình trên, cần chú ý đến lực căng của vải khi quấn, khâu mẫu thử bằng chỉ cotton sau khi cắt phần các phần thừa để chúng không chồng lên nhau. Cố định hai đầu bằng băng dính vinyl có chiều rộng khoảng 19mm ở cả hai đầu và để lộ hai đầu ống cao su ra ngoài khoảng 6 mm. Lúc này chiều dài của băng dính vinyl gấp khoảng 1,5 lần chu vi ngoài của ống cao su.

HINH 9
Mô phỏng mẫu vải được quấn quanh ống cao su

Quay 4 mẫu thử gồm 2 mẫu dọc và 2 mẫu ngang đã được quấn quanh ống cao su trong máy thử nghiệm với tốc độ 60 ± 2 vòng/phút, thường là 10 giờ với vải dệt thoi và 5 giờ với vải dệt kim. Kết quả là giá trị trung bình của 4 mẫu thử và được biểu thị bằng cách làm tròn một chữ số sau dấu thập phân thành 0 hoặc 5.

Thời gian chạy mẫu thử có thể thay đổi theo yêu cầu của khách hàng. Nếu thay đổi, nó sẽ được ghi lên báo cáo thử nghiệm. 

Mẫu phải được làm sạch các vụn của tấm lót bám vào và các vụn mẫu rơi ra trong quá trình thử nghiệm. 

Mức độ xuất hiện các hạt vón trên bề mặt mẫu thử được đánh giá bằng cách so sánh mẫu thử với các ảnh chụp tiêu chuẩn xếp cạnh nhau. 

Đánh giá mức độ vón kết:

Ảnh tiêu chuẩn là bộ 5 ảnh xếp theo mức độ và đánh số từ 1 đến 5 tương ứng là mức độ xù lông giảm dần. Điểm đánh giá sẽ là 1, 2, 3, 4, 5 nếu mẫu giống với trong ảnh chuẩn và điểm sẽ nằm giữa các khoảng số nguyên nếu mẫu gần giống với 2 ảnh chuẩn gần nhau nhất. Sau khi đánh giá xong thì giá trị của các mẫu thử sẽ được làm tròn theo nguyên tắc làm tròn của phương pháp A.

2. Tiêu chuẩn ASTM D4970-50: sử dụng máy kiểm tra độ chà xát vải sợi Martindale

Chuẩn bị mẫu: Cắt 1 cặp mẫu thử hình tròn, 1 mẫu đường kính 38mm (1.5in) và mẫu còn lại 140mm (5.5in).

Quy trình: Đặt mẫu 140mm cùng tấm nỉ lót vào khuôn bên dưới máy Martindale, mẫu 38mm và bọt xốp chuẩn được gắn vào khuôn bên trên máy thử nghiệm sao cho 2 mẫu có thể cọ sát vào nhau khi thí nghiệm.Các mẫu được cọ xát với các chất mài mòn ở áp suất thấp 3kPa (0.44 psi) và theo các hướng thay đổi liên tục và mức độ mài mòn hoặc vón kết được so sánh với các thông số tiêu chuẩn.

Tiêu chuẩn đánh giá: Kết quả đánh giá dựa trên bộ ảnh chuẩn gồm 5 bức ảnh được đánh số từ 1 đến 5 minh họa các mức độ vón khác nhau với mẫu thử.

HINH 10
Quá trình Pilling test thực hiện trên máy Martindale

3. Tiêu chuẩn ASTM D3512: sử dụng máy Pilling Random

Chuẩn bị:

  • Máy Pilling Random
  • Tấm lót bần
  • Keo vinyl + chai nhựa để đựng keo pha loãng 
  • Máy hút bụi để làm sạch mẫu sau khi thử nghiệm
  • Mảnh cotton

Tấm lót được lắp vào máy và phải vừa khít với buồng thử nghiệm, để tránh cho tấm lót bị xê dịch khi roto quay, ta cố định chúng mà 1 đoạn băng keo. Lưu ý mỗi mặt của tấm lót chỉ được sử dụng tối đa 1 giờ.

HINH 11
Tấm lót bần trong máy Pilling Random

Chuẩn bị mẫu: Cắt mẫu thử theo hình vuông có cạnh 105 mm (4,13 in.) theo hướng nghiêng một góc xấp xỉ 0 ,78 rad (45°) so với hướng vòng sợi dọc. Lấy 3 mẫu từ các phần các nhau của mảnh vải hoặc bộ quần áo. Dán tất cả rìa của các mẫu bằng keo không quá 3mm. Treo mẫu thử trên giá 2 giờ hoặc đến khi keo khô ít nhất 2 giờ.  

Điều kiện thử nghiệm: Mẫu trước khi đưa vào máy phải được dán keo vào các mép để tránh tình trạng tuột vòng sợi làm mẫu biến dạng ảnh hướng đến quá trình đánh giá. Tấm lót bần phải vừa khít với buồng thử nghiệm, nếu hở phải dùng băng keo cố định. 

Quy trình thử nghiệm: Đặt 3 mẫu thử và mảnh cotton 25mg hoặc 0.2inch vào 1 buồng cụ thể trên máy. Bật máy và hẹn giờ trong 30 phút. Phải thường xuyên kiểm tra buồng thử xem mẫu có được quay đều hay không. Sau mỗi lần chạy, làm sạch các mẫu bằng máy hút bụi.

Quay 3 mẫu thử và cúi bông vào cùng 1 buồng thử, cài đặt thời gian và mở máy. Sau khi kết thúc, dùng máy hút bụi làm sạch bề mặt mẫu thử, đảm bảo các xơ sợi rơi ra trong thử nghiệm không còn bám trên bề mặt vải. 

HINH 12
Mảnh cotton được thêm vào cùng mẫu thử

Tiêu chuẩn đánh giá:đánh giá dựa trên bộ ảnh chuẩn gồm 5 bức ảnh được đánh số từ 1 đến 5 minh họa mức độ vón khác nhau với mẫu thử.

Đánh giá

Cách đánh giá: Đặt mẫu thử lên tủ quan sát. Sử dụng thiết bị quan sát hoặc bộ ảnh chuẩn để đánh giá. Ví dụ ASTM sử dụng bộ ảnh chuẩn gồm 5 hình, tương ứng với mỗi hình là 1 cấp độ vón kết khác nhau. 

Mức độKết luận
5Không vón kết
4Vón kết không đáng kể
3Vón kết vừa phải
2Vón kết nhiều
1Vón kết rất nhiều

Ta đánh giá từng mẫu với ảnh tiêu chuẩn. Các mẫu phải đồng nhất với nhau nên loại bỏ hoặc thử nghiệm lại khi kết quả của mẫu sai khác quá nhiều với các mẫu còn lại. 

HINH 13
Máy quan sát, đánh giá vải
result copy
Ví dụ 5 cấp độ vón kết của bề mặt vải sau thí nghiệm

Những điều cần lưu ý về Pilling Test

Tất cả các thử nghiệm trên đều phải được thực hiện trong môi trường có nhiệt độ và độ ẩm tiêu chuẩn.

Kết quả của thử nghiệm dựa trên đánh giá của người quan sát viên nên cần ít nhất 2 quan sát viên đánh giá để tăng độ chính xác của kết quả.

Việc thử nghiệm độ chống kết vón chỉ mang tính mô phỏng giúp đánh giá mẫu trước khi bán cho người tiêu dùng nên không tránh khỏi sai khác với sử dụng thực tế.

5/5 - (1 bình chọn)